Đặc điểm ngành trồng mía ở việt nam hiện nay

Hỗ trợ trực tuyến

TP. Hà Nội
 
Anh Tuấn tư vấn 24/7       0938.389.689
 
  0967.389.689
 
Bích Thủy           0962.536.117
 
Phương Thúy              0962. 536.118
 
TP. Hồ Chí Minh
 
Quốc hưng             0988.439.849
 
Liên hệ làm đại lý   0967.389.689

 

Chia sẻ facebook

quảng cáo

Tin tức

Đặc điểm ngành trồng mía ở việt nam hiện nay

Mía đường hiện nay của nước ta là một trong những ngành được xuất khẩu nhiều sang các nước khác. Với những đặc điểm nổi bật sau đây  ngành trồng mía đã mang về nhiều thành công cho ngành công nghiệp mía đường như:

 

1. Đặc điểm tình hình


Những năm gần đây giá đường thế giới cũng như trong nước mặc dù có biến động nhất định nhưng luôn có xu hướng tăng và giữ ở mức khá cao là điều kiện thuận lợi để ngành mía đường phát triển.

Giá vật tư nông nghiệp tương đối ổn định trong bối cảnh giá mua mía cao và giữ ổn định từ vụ trước đã khuyến khích người dân tăng cường đầu tư thâm canh nâng cao năng suất mía nên diện tích, năng suất và sản lượng mía vụ ép tăng mạnh so với vụ trước. Sản xuất đường đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.

2. Kết quả sản xuất mía đường

a. Diện tích, năng suất, sản lượng:
Diện tích mía đường của nước ta rất lớn với xấp xỉ 300.000 hecta, tăng qua từng năm. . Năng suất mía bình quân , sản lượng mía , đều tăng qua từng năm hứa hẹn sự phát triển cho ngành. Sản lượng mía ép công nghiệp vụ sau so với vụ trước đều tăng .
Giá mía giữ ở mức ổn định . Không còn tình trạng giá mua chênh lệch quá lớn giữa các vùng và các nhà máy như vụ trước.

b. Chất lượng mía:

Theo báo cáo của các đơn vị chế biến đường: chữ đường cao nhất ở Công ty CP mía đường Sông Con và thấp nhất ở Công ty CP NIVL còn lại hầu hết dao động ở khoảng trugn bình.

- Miền Bắc có tỷ lệ tiêu hao thấp nhất (10,5 mía/1 đường).

- Miền Trung và Tây nguyên tiêu hao ở mức trung bình (11,0 mía/1 đường). - Miền Nam có tỷ lệ tiêu hao cao nhất (11,9 mía/1 đường). Tỷ lệ thu hồi đường trên mía của chúng ta thấp hơn rất nhiều so với các nước trên thế giới và trong khu vực (Trung Quốc và Thái Lan chỉ khoảng 8 mía/đường). Tỷ lệ thu hồi ở 3 miền khác nhau cho thấy rõ miền Nam có chất lượng mía rất thấp.

 

Đặc điểm ngành trồng mía ở việt nam hiện nay

 

3. Một số biện pháp kỹ thuật canh tác đã áp dụng trong sản xuất

a. Giống:
Các giống cũ như My55-14 vẫn chiếm tỷ lệ trồng lớn, giống  ROC10 chiếm  tỉ lệ khá cao trong sản xuất ở các tỉnh phía Bắc. Ở phía Nam các giống R570, R579, K88-200, ROC16 chiếm tỷ lệ khá cao lớn. Các giống mới và những giống đưa ra sản xuất trong khoảng 10 năm gần đây hiện chỉ chiếm tỷ lệ khoảng trên 40% trong sản xuất.
Công nghệ chế biến và phương thức tổ chức thu mua, chế biến chưa hợp lý cùng với giống cũ (hàm lượng đường thấp) chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất 3 nguyên nhân làm tăng mức tiêu hao nguyên liệu trong chế biến đường hiện nay .

b. Canh tác:
-Làm đất: Những vùng trồng mía tập trung về cơ bản đất đã được cơ giới hoá và bán cơ giới hoá ở những nơi có địa hình thuận lợi nhưng độ sâu cày đất chưa đảm bảo nên giữ ẩm kém, rễ kém phát triển nên mía đồi thường xuyên thiếu nước.
- Bón phân: Toàn bộ diện tích mía ký hợp đồng đầu tư, tiêu thụ sản phẩm với nhà máy được đầu tư ứng trước phân bón. Các nhà máy có cơ sở sản xuất phân vi sinh hữu cơ hoặc phân trộn đã ứng trước toàn bộ lượng phân bón trên cho người trồng mía. Do cây mía có hiệu quả nên ngoài lượng phân do nhà máy ứng trước người trồng mía đã đầu tư đáng kể phân bón cho mía từ những nguồn cung ứng khác. Tuy nhiên hầu hết diện tích mía chưa được áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp đơn giản, dễ áp dụng để tạo nguồn phân hữu cơ tại chỗ như: tận dụng các nguồn phân hữu sẵn có hoặc tạo ra lượng phân hữu cơ tái sinh (trồng xen cây họ đậu, tủ gốc), sử dụng màng phủ nông nghiệp…

- Chăm sóc: một số diện tích mía ở khu vực Đông Nam bộ và một vài nơi khác đã được chăm sóc bằng máy, nhưng diện tích trên còn chiếm tỷ lệ thấp. Để chăm sóc bằng máy cần tiến hành đồng bộ ngay từ khi rạch hàng để trông mới.

c. Bảo vệ thực vật: 
Công tác tác bảo vệ thực vật được bộ phận nông vụ và cơ quan chuyên trách của địa phương thường xuyên quan tâm trong điều tra phát hiện và phòng trừ kịp thời nên.

d. Tưới nước: 
Hầu hết các vùng mía trồng trên đất đồi bãi sử dụng nước trời (diện tích có tưới bổ sung khoảng hơn 10.000 ha, chỉ chiếm 6,4% diện tích mía đồi). Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến năng suất mía của nước ta thấp (thực tế cho thấy diện tích mía được tưới bổ sung đủ nước cao hơn từ 1,5 - 2 lần so với mía trồng trong điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên do địa hình đồi dốc nên tùy điều kiện mỗi nơi có thể tận dụng các nguồn nước sẵn có để tưới.
Một số đợn vị đã áp dụng phương thức tưới nước bằng công nghệ cao như tưới nhỏ giọt của Israel có suất đầu tư lớn nhưng cho năng suất cao gấp 2 lần so với sản xuất trong điều kiện bình thường.

4. Chính sách hỗ trợ phát triển nguyên liệu và công tác thu mua


a. Hỗ trợ phát triển:
Hầu hết các công ty đường đã xây dựng chính sách để khuyến khích phát triển mía và gắn bó quyền lợi người trồng mía với công ty như: Công ty CP mía đường Lam sơn cho vay không tính lãi trong 3 năm để người dân mua, thuê, tích tụ đất đai trồng mía; Công ty Cp mía đường Sơn La đầu tư xây dựng giao thông nội bộ; Công ty CP mía đường 333 đầu tư hỗ trợ đào ao, giếng để chống hạn;

Công ty CP mía đường Cần Thơ đã thỏa thuận với ngân hàng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu đầu tư của người trồng mía nên hầu hết diện tích mía đã được đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu tư thâm canh. Nhờ có những chính sách đầu tư hỗ trợ nên diện tích những vùng mía nguyên liệu có hợp đồng đầu tư với nhà máy được thâm canh có năng suất khá cao.

b. Chính sách thu mua: :
Đã có cải tiến rõ rệt. Trong vụ sản xuất hầu hết các nhà máy đều công bố giá sàn để người trồng mía yên tâm. Khi vào vụ ép các nhà máy đã mua mía với gia hợp lý và không còn tình trạng chênh lệch giá quá lớn giữa các vùng, các nhà máy trong vụ ép vừa qua. Một số nhà máy mua theo chữ đường đã khuyến khích người sản xuất nâng cao chất lượng mía.
Mặc dù vậy nhưng vẫn còn tình trạng một số đơn vị tổ chức thu mua chế biến chưa kịp thời làm giảm chất lượng mía.

5. Một số tồn tại


- Một số đơn vị tăng công suất chế biến nhưng chưa chú trọng phát triển nguyên liệu nên không phát huy được tối đa công suất thiết kế.

- Hầu hết các công ty, nhà máy đường có vùng nguyên liệu riêng đã quan tâm đầu tư mở rộng diện tích nhưng chưa chú trọng đến đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất, chất lượng nhằm phát triển ổn định và bền vững vùng nguyên liệu.
- Công tác giống (tổ chức nhân giống cho trông mới hàng năm, đầu tư nhập và nhân giống mới) chưa được quan tâm đúng mức. 
- Tình trạng mua xô còn diễn ra nhiều nơi gây khó khăn cho nang cao chất lượng mía.

Các công ty mía đường gắn kết với Trung tâm Khuyến nông của các địa phương cùng người dân  để bố trí kinh phí xây dựng và phổ biến nhằm nhân rộng các mô hình thâm canh tăng năng suất, chất lượng mía, để phát triển rộng rãi, tạo ra một ngành công nghiệp phát triển cho Việt Nam.

Nguồn: Internet